Khái niệm về lập dự án đầu tư xây dựng công trình

Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư được trải qua ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư; kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng. Lập dự án đầu tư xây dựng chỉ là một phần việc của quá trình chuẩn bị đầu tư. Cùng Tập Đoàn Thiên Minh tìm hiểu về Khái niệm về lập dự án đầu tư xây dựng công trình, Lập Dự án đầu tư xây dựng công trình và những vấn đề liên quan.

Khái niệm về lập dự án đầu tư xây dựng công trình

– Theo quy định tại khoản 17 Điều 3 Luật Xây dựng thì dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định.

– Lập dự án đầu tư xây dựng công trình để chứng minh cho người quyết định đầu tư thấy được sự cần thiết, mục tiêu, hiệu quả đầu tư của dự án; làm cơ sở cho người bỏ vốn (cho vay vốn) xem xét hiệu quả dự án và khả năng hoàn trả vốn. Đồng thời để các cơ quan quản lý nhà nước xem xét sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng; đánh giá tác động về sự ảnh hưởng của dự án tới môi trường, mức độ an toàn đối với các công trình lân cận; các yếu tố ảnh hưởng tới kinh tế xã hội; sự phù hợp với các yêu cầu về phòng chống cháy nổ, an ninh quốc phòng.

– Khác với báo cáo nghiên cứu khả thi, nội dung dự án đầu tư xây dựng công trình được phân định rõ thành hai phần: thuyết minh và thiết kế cơ sở trong đó phần thiết kế cơ sở phải thể hiện được các giải pháp thiết kế chủ yếu, bảo đảm đủ điều kiện xác định tổng mức đầu tư và triển khai các bước thiết kế tiếp theo. Thiết kế cơ sở của các loại dự án dù ở quy mô nào cũng phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về xây dựng tổ chức thẩm định khi phê duyệt dự án, theo quy định tại khoản 4, 5 và 6 Điều 9 Nghị định số 16/CP. Mặt khác, về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân lập dự án xây dựng công trình được quy định chặt chẽ và có yêu cầu cao hơn, đồng thời là một yêu cầu trong nội dung thẩm định dự án theo quy định tại khoản 7 Điều 10, Điều 53 và 54 Nghị định 16/CP.

– Theo quy định tại khoản 5 Điều 35 Luật Xây dựng khi đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ của dân chủ đầu tư không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật mà chỉ lập hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng, trừ những công trình theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 62 Luật Xây dựng.

Lập Dự án đầu tư xây dựng công trình

– Báo cáo đầu tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) nếu có;

– Dự án đầu tư xây dựng công trình (Báo cáo nghiên cứu khả thi);

– Báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình (công trình tôn giáo; công trình có Tổng mức đầu tư < 15 tỉ không bao gồm tiền sử dụng đất).

Nội dung của báo cáo nghiên cứu tiền khả thi bao gồm :

– Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn;

– Dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư;

– Chọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiện nhu cầu diện tích sử dụng đất trên cơ sở giảm tới mức tối đa việc sử dụng đất và những ảnh hưởng về môi trường, xã hội và tái định cư (có phân tích, đánh giá cụ thể);

– Phân tích, lựa chọn sơ bộ về công nghệ, kỹ thuật (bao gồm cả cây trồng, vật nuôi nếu có) và các điều kiện cung cấp vật tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng;

– Phân tích, lựa chọn sơ bộ các phương án xây dựng;

– Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động các nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ, thu lãi;

– Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế – xã hội của dự án

– Xác định tính độc lập khi vận hành, khai thác của các dự án thành phần hoặc tiểu dự án (nếu có);

– Đối với các dự án mua sắm thiết bị, máy móc không cần lắp đặt, nội dung báo cáo nghiên cứu tiền khả thi chỉ thực hiện theo các khoản 1, 2, 4, 6, 7 và 8 Điều này.

Nội dung của báo cáo nghiên cứu khả thi :

– Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư;

– Lựa chọn hình thức đầu tư;

– Chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có sản xuất);

– Các phương án địa điểm cụ thể (hoặc vùng địa điểm, tuyến công trình) phù hợp với quy hoạch xây dựng (bao gồm cả tài liệu về sự  lựa chọn địa điểm, trong đó có đề xuất giải pháp hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng đối với môi trường và xã hội);

– Phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư (nếu có);

– Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ (bao gồm cả cây trồng, vật nuôi nếu có);

–  Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường;

– Xác định rõ nguồn vốn (hoặc loại nguồn vốn), khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ. Phương án hoàn trả vốn đầu tư (đối với dự án có yêu cầu thu hồi vốn đầu tư);

– Phương án quản lý khai thác dự án và sử dụng lao động;

– Phân tích hiệu quả đầu tư;

– Các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư. Dự án nhóm C phải lập ngay kế hoạch đấu thầu. Dự án nhóm A, B có thể lập kế hoạch đấu thầu sau khi có quyết định đầu tư (tuỳ điều kiện cụ thể của dự án). Thời gian khởi công (chậm nhất), thời hạn hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng (chậm nhất);

– Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án;

– Xác định chủ đầu tư;

– Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến dự án.

Báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình​

Đối với công trình đầu tư có quy mô nhỏ, yêu cầu kỹ thuật giản đơn (có thể thiết kế mẫu, xử lý nền móng không phức tạp…) thì chỉ lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật về đầu tư thay cho dự án khả thi.

Báo cáo kinh tế – kỹ thuật về đầu tư được gọi tắt là “Báo cáo đầu tư” được áp dụng đối với dự án có mức vốn đầu tư dưới 3 tỷ đồng, các dự án xây dựng, sửa chữa, bảo trì sửa chữa vốn sự nghiệp và các dự án của các ngành đã có thiết kế mẫu và tiêu chuẩn kỹ thuật được Bộ quản lý ngành phê duyệt trên cơ sở phù hợp với quy hoạch ngành, quy hoạch vùng hoặc kế hoạch trung và dài hạn.

Nội dung của Báo cáo đầu tư

1. Căn cứ pháp lý và sự cần thiết đầu tư:

– Ghi rõ các căn cứ pháp lý như các quyết định của cấp trên, kế hoạch đã được phê duyệt.

– Giải trình tóm tắt lý do cần phải đầu tư công trình.

2. Tên dự án và hình thức đầu tư

Hình thức đầu tư cần được ghi rõ là xây dựng mới, cải tạo, mở rộng hay duy trì.

3. Chủ đầu tư

Ghi rõ tên cơ quan, đơn vị cá nhân làm Chủ đầu tư.

4. Địa điểm và mặt bằng

Ghi rõ tên Xã (hoặc đường phố, Phường) hoặc Huyện (Quận).

5. Khối lượng công việc

Khối lượng công việc đầu tư được ghi theo đơn vị thích hợp và được tính trên cơ sở định mức đơn giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành.

6. Vốn đầu tư và nguồn vốn

– Tổng số vốn đầu tư

– Nguồn vốn

+ Ngân sách cấp, trong đó phân rõ: vốn ngân sách Trung ương (nếu có nguồn tài trợ của nước ngoài cũng cần ghi rõ), vốn ngân sách địa phương.

+ Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước.

+ Các nguồn vốn khác (nguồn vốn huy động từ các chủ phương tiện, của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, của nhân dân đóng góp…).

7. Thời gian khởi công và hoàn thành

Đối với các dự án sản xuất kinh doanh, ngoài những nội dung nêu trên, cần bổ sung:

– Sản phẩm, (dịch vụ) và quy mô công suất.

– Thiết bị (ghi rõ giá trị và nguồn cung cấp).

– Nguồn cung cấp nguyên liệu, vật liệu.

– Khả năng trả nợ (nếu có vốn vay) và thời hạn hoàn vốn.

– Biện pháp bảo vệ môi trường (nếu có dự án tác động xấu tới môi trường).

Đối với các dự án có quy mô đầu tư dưới 100 triệu đồng, tùy theo yêu cầu của dự án, không nhất thiết phải nêu chi tiết các mục ghi trên.

Xem thêm:

>>> Bất động sản và nỗi lo thời kỳ ‘ngủ đông’

>>> Doanh nghiệp BĐS được hỗ trợ để ứng phó và vượt qua khó khăn